CHUYỂN NHƯỢNG VÀ CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG (LI-XĂNG)

Trong quản trị tài sản trí tuệ (TSTT), việc xác lập quyền mới chỉ là bước đầu. Để tạo ra giá trị kinh tế, doanh nghiệp cần thực hiện các giao dịch thông qua hai hình thức cơ bản là chuyển nhượng quyền và chuyển quyền sử dụng.

1. NỘI DUNG BÀI HỌC

1.1. Chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ (Điều 138 Luật SHTT)

Bản chất: Là việc chủ sở hữu quyền SHTT chuyển nhượng toàn bộ quyền sở hữu của mình cho tổ chức, cá nhân khác.

Hệ quả: Sau khi hợp đồng có hiệu lực, bên chuyển nhượng mất hoàn toàn quyền sở hữu và không còn tư cách chủ sở hữu đối với tài sản đó. Bên nhận chuyển nhượng trở thành chủ sở hữu mới.

Hình thức: Phải được lập thành văn bản (Hợp đồng chuyển nhượng).

1.2. Chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp – Li-xăng (Điều 141 Luật SHTT)

Bản chất: Chủ sở hữu (bên chuyển quyền) cho phép tổ chức, cá nhân khác (bên nhận quyền) sử dụng đối tượng SHTT. Chủ sở hữu vẫn giữ nguyên quyền sở hữu đối với tài sản đó.

Các hình thức hợp đồng Li-xăng (Điều 143 Luật SHTT):

  • Hợp đồng độc quyền: Trong phạm vi và thời hạn chuyển giao, bên nhận quyền được độc quyền sử dụng. Bên chuyển quyền (chủ sở hữu) không được ký hợp đồng với bất kỳ bên thứ ba nào khác và đặc biệt là không được tự mình sử dụng đối tượng đó.
  • Hợp đồng không độc quyền: Bên chuyển quyền vẫn có quyền tự mình sử dụng và có quyền ký hợp đồng sử dụng với các bên khác.
  • Hợp đồng sử dụng thứ cấp: Bên nhận quyền (từ hợp đồng trước đó) tiếp tục cho bên thứ ba sử dụng theo một hợp đồng khác, nếu được sự đồng ý của bên chuyển quyền ban đầu.

2. GIẢI ĐÁP CÂU HỎI

Câu 1: Trong hợp đồng Li-xăng không độc quyền, chủ sở hữu có quyền tiếp tục sử dụng nhãn hiệu đó để kinh doanh không?

Trả lời: Có bởi theo Khoản 2 Điều 143 Luật SHTT, hợp đồng không độc quyền là hợp đồng mà theo đó, trong phạm vi và thời hạn chuyển giao quyền sử dụng, bên chuyển quyền (chủ sở hữu) vẫn có quyền tự mình sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp (nhãn hiệu), đồng thời có quyền ký kết hợp đồng sử dụng không độc quyền với người khác.

Câu 2: Tại sao các hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu phải được đăng ký tại Cục SHTT?

Trả lời: Để đảm bảo tính công khai và bảo vệ quyền lợi của các bên trong các giao dịch thương mại. Theo Khoản 1 Điều 148 Luật SHTT, đối với các loại quyền sở hữu công nghiệp được xác lập trên cơ sở đăng ký (như nhãn hiệu, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp), hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu chỉ có hiệu lực khi đã được đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp (Cục Sở hữu trí tuệ).

Câu 3: Phân biệt “Chuyển nhượng” và “Chuyển quyền sử dụng” qua ví dụ về một phần mềm máy tính.

Ví dụ: Công ty A phát triển một phần mềm quản lý kho.

Trường hợp Chuyển nhượng (Assignment): Công ty A bán toàn bộ mã nguồn và quyền tác giả phần mềm cho Công ty B với giá 1 tỷ đồng.

Kết quả: Công ty B trở thành chủ sở hữu duy nhất. Công ty B có quyền sửa tên phần mềm, bán lại cho người khác hoặc xóa sổ nó. Công ty A không còn bất kỳ quyền gì và không được phép bán phần mềm này cho ai khác nữa.

Trường hợp Chuyển quyền sử dụng (Licensing): Công ty A cho Công ty C thuê quyền sử dụng phần mềm này để quản lý kho trong 1 năm với phí 10 triệu đồng.

Kết quả: Công ty A vẫn là chủ sở hữu phần mềm. Công ty C chỉ được phép “cài đặt và sử dụng” theo các điều khoản thỏa thuận, không được quyền bán lại hay sửa đổi mã nguồn. Công ty A vẫn có thể tiếp tục cho Công ty D, E, F thuê phần mềm đó (nếu là li-xăng không độc quyền).

Lên đầu trang