TÁC GIẢ VÀ CHỦ SỞ HỮU QUYỀN TÁC GIẢ

1. NỘI DUNG BÀI HỌC

Pháp luật SHTT phân định rõ ràng giữa người có công sáng tạo (Tác giả) và người có quyền khai thác kinh tế (Chủ sở hữu).

  • Tác giả (Điều 12a Luật SHTT): Tác giả là người trực tiếp sáng tạo tác phẩm. Nếu có hai người trở lên cùng trực tiếp sáng tạo tác phẩm với ý định hợp nhất thành một chỉnh thể hoàn chỉnh thì những người đó là các đồng tác giả.

Lưu ý: Những người hỗ trợ, góp ý kiến, cung cấp tư liệu, thiết bị, tài chính… không được công nhận là tác giả.

  • Chủ sở hữu quyền tác giả: Là tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản (Điều 20 Luật SHTT) và quyền công bố tác phẩm (Điều 19 Luật SHTT).
    • Trường hợp 1 (Điều 3 Luật SHTT): Tác giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất của mình để sáng tạo thì tác giả đồng thời là chủ sở hữu.
    • Trường hợp 2 (Điều 39 Luật SHTT): Tác giả sáng tạo tác phẩm theo nhiệm vụ được giao (nhân viên trong công ty) hoặc theo hợp đồng thuê khoán/đặt hàng thì tổ chức giao nhiệm vụ hoặc bên đặt hàng là chủ sở hữu (trừ khi có thỏa thuận khác).
    • Trường hợp 3 (Điều 41 Luật SHTT): Tác giả chuyển nhượng quyền sở hữu tác phẩm cho bên khác thì bên nhận chuyển nhượng là chủ sở hữu.  
  • Đồng tác giả (Điều 38):
    • Nếu tác phẩm có thể tách rời các phần riêng biệt để sử dụng độc lập (ví dụ: nhạc sĩ viết nhạc và thi sĩ viết lời cho một bài hát), mỗi người có quyền đối với phần riêng đó.
    • Nếu không thể tách rời, việc thực hiện các quyền phải có sự đồng ý của tất cả các đồng tác giả. 

2. GIẢI ĐÁP CÂU HỎI

Câu 1: Trong trường hợp thuê người viết hộ (ghostwriter), ai là tác giả theo quy định của pháp luật?

Trả lời: Theo quy định tại Điều 12a Luật SHTT, người trực tiếp viết (người viết thuê/ghostwriter) vẫn là Tác giả.

Pháp luật Việt Nam quy định tác giả phải là người trực tiếp sáng tạo. Dù có hợp đồng thuê viết và bên thuê trả tiền để lấy tên, nhưng về mặt pháp lý, người “cầm bút” mới là tác giả. 

Tuy nhiên, trong trường hợp này, bên thuê sẽ là Chủ sở hữu quyền tác giả (theo Điều 39) và có quyền tài sản cũng như quyền công bố tác phẩm. Nếu có tranh chấp, việc xác định ai là người trực tiếp sáng tạo sẽ dựa trên các chứng cứ thực tế.

Câu 2: Phân biệt quyền lợi của một nhân viên viết code và công ty sở hữu mã nguồn đó khi phần mềm được bán cho khách hàng.

Dựa trên Điều 39 Luật SHTT và đặc thù của chương trình máy tính:

  • Nhân viên viết code (Tác giả):
    • Giữ các quyền nhân thân không thể chuyển nhượng (Khoản 2 và Khoản 4 Điều 19 Luật SHTT): Quyền đứng tên trên phần mềm và quyền bảo vệ sự toàn vẹn của mã nguồn (ngăn chặn việc sửa chữa gây hại danh dự).
    • Không có quyền bán, sao chép hay thu tiền từ phần mềm này.
  • Công ty (Chủ sở hữu):
    • Nắm toàn bộ quyền tài sản (Điều 20 Luật SHTT): Quyền sao chép, phân phối, truyền đạt đến công chúng và đặc biệt là quyền cho thuê chương trình máy tính.
    • Khi bán cho khách hàng, công ty thu toàn bộ lợi nhuận. Công ty có quyền quyết định việc nâng cấp, sửa đổi hoặc khai thác thương mại phần mềm.

Câu 3:Một đồng tác giả có thể ngăn cản việc xuất bản tác phẩm chung không? 

Trả lời: Có thể. 

Giải thích:

Theo Điều 38 Luật SHTT, việc sử dụng quyền tác giả đối với tác phẩm đồng tác giả không thể tách rời phải có sự thỏa thuận thống nhất của tất cả các đồng tác giả. Nếu một người không đồng ý, tác phẩm không thể được xuất bản.

Lên đầu trang