Để thực thi quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) một cách hiệu quả, việc nhận diện chính xác các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là bước đầu tiền. Pháp luật Việt Nam đã quy định chi tiết các loại hình xâm phạm tương ứng với từng đối tượng được bảo hộ nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho các chủ thể quyền.
1. NỘI DUNG BÀI HỌC
Để bảo vệ quyền, trước hết phải xác định thế nào là một hành vi xâm phạm. Theo quy định tại Điều 28, Điều 35, từ Điều 124 đến Điều 131 Luật SHTT và các điều cụ thể cho từng đối tượng, ví dụ cho các hành vi xâm phạm có thể kể đến như:
- Xâm phạm Quyền tác giả và Quyền liên quan (Điều 28, 35 Luật SHTT): Đây là nhóm hành vi phổ biến nhất trong môi trường số
- Hành vi xâm phạm quyền tác giả: Bao gồm các hành vi như sao chép tác phẩm mà không được phép; làm tác phẩm phái sinh (dịch, cải biên) trái luật; xuyên tạc tác phẩm gây phương hại đến danh dự, uy tín của tác giả; hoặc gỡ bỏ, thay đổi thông tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử.
- Hành vi xâm phạm quyền tác giả: Bao gồm các hành vi như sao chép, trích ghép các cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình hoặc chương trình phát sóng mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu.
- Xâm phạm Nhãn hiệu (Điều 129 Luật SHTT): Hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu xảy ra khi một tổ chức, cá nhân sử dụng các dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu đang được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự. Điều kiện cốt lõi để xác định xâm phạm là việc sử dụng này có khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc của hàng hóa, dịch vụ.
- Xâm phạm Sáng chế (Điều 126 Luật SHTT): Quyền đối với sáng chế bị xâm phạm khi có chủ thể sử dụng giải pháp kỹ thuật đã được bảo hộ trong thời hạn hiệu lực của văn bằng mà không được phép của chủ sở hữu.
- Xâm phạm Bí mật kinh doanh (Điều 127 Luật SHTT): Pháp luật nghiêm cấm các hành vi tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của chủ sở hữu hợp pháp. Ngoài ra, việc tiết lộ hoặc sử dụng thông tin bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu cũng được coi là hành vi xâm phạm.
- Cơ sở pháp lý: Điều 28, 35, từ Điều 124 đến Điều 131 Luật SHTT. Các quy định hướng dẫn chi tiết tại Nghị định 17/2023/NĐ-CP (đặc biệt là các biện pháp ngăn chặn hành vi xâm phạm quyền tác giả trên môi trường mạng) và Nghị định 65/2023/NĐ-CP.
2. GIẢI ĐÁP CÂU HỎI
Câu 1: Một sản phẩm có tên “Adidat” với logo 3 gạch xiên có bị coi là xâm phạm nhãn hiệu “Adidas” không? Tại sao?
Trả lời: Hành vi này bị coi là xâm phạm nhãn hiệu. Căn cứ theo điểm d khoản 1 Điều 129 Luật SHTT, việc sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng (Adidas) cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự (giày dép, quần áo) mà có khả năng gây nhầm lẫn là hành vi xâm phạm.
- Về mặt chữ: “Adidat” và “Adidas” có sự tương đồng rất lớn về cấu trúc âm tiết và cách viết, dễ gây nhầm lẫn về mặt thị giác và thính giác cho người tiêu dùng.
- Về mặt hình: Logo 3 gạch xiên là yếu tố nhận diện cốt lõi của Adidas. Việc sao chép đặc điểm này khiến khách hàng lầm tưởng sản phẩm “Adidat” có nguồn gốc từ Adidas hoặc có mối liên hệ kinh doanh với hãng này.
Câu 2: Hành vi “nghe nhạc lậu” trên mạng của cá nhân có được coi là hành vi xâm phạm quyền tài sản không?
Trả lời: Theo quy định của Luật SHTT, hành vi xâm phạm chủ yếu tập trung vào người cung cấp, sao chép hoặc truyền đạt tác phẩm trái phép (như chủ website nhạc lậu). Tuy nhiên, đối với người nghe, nếu chỉ đơn thuần là “nghe” (streaming) thì chưa có quy định cụ thể coi đây là hành vi xâm phạm quyền tài sản trực tiếp của cá nhân người dùng.
Tuy nhiên, nếu người dùng thực hiện hành vi tải về (sao chép) từ một nguồn trái phép để lưu trữ, dù là để sử dụng cá nhân, hành vi này vẫn có thể bị coi là xâm phạm nếu gây thiệt hại một cách bất hợp lý cho việc khai thác bình thường tác phẩm của chủ sở hữu.
Nghị định 17/2023/NĐ-CP cũng tăng cường trách nhiệm của các bên trong môi trường mạng để hạn chế việc tiếp cận các nội dung vi phạm này.
Câu 3: Để xác định một hành vi là xâm phạm sáng chế, ta cần so sánh đối tượng nghi ngờ với tài liệu nào trong hồ sơ đăng ký?
Trả lời: Để xác định xâm phạm sáng chế, ta phải so sánh đối tượng nghi ngờ với nội dung và phạm vi trong Bản mô tả của Bằng độc quyền sáng chế.
Yêu cầu bảo hộ là phần văn bản xác định phạm vi bảo hộ về mặt pháp lý của sáng chế. Nếu đối tượng nghi ngờ chứa đựng tất cả các dấu hiệu kỹ thuật cơ bản được liệt kê tại Bằng độc quyền sáng chế, hoặc các dấu hiệu tương đương, thì hành vi đó sẽ bị kết luận là xâm phạm quyền đối với sáng chế.




