THỜI HẠN BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ

Quyền tác giả là một quyền lợi đặc biệt mà Nhà nước dành cho người sáng tạo để ghi nhận công sức và giá trị sáng tạo của họ. Tuy nhiên, quyền này không phải là vô tận. Để đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích cá nhân của tác giả và lợi ích phát triển của cộng đồng, pháp luật đã quy định những mốc thời gian cụ thể cho từng loại quyền và từng loại tác phẩm.

1. NỘI DUNG BÀI HỌC

a. Quyền nhân thân: Bảo hộ vô thời hạn (trừ quyền công bố)

  • Các quyền nhân thân bao gồm: đặt tên cho tác phẩm, đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, nêu tên khi tác phẩm được công bố, sử dụng; bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm. Những quyền này gắn liền với nhân thân tác giả và được bảo hộ mãi mãi, không ai được phép xâm phạm ngay cả khi tác giả đã qua đời.
  • Riêng quyền công bố tác phẩm (hoặc cho phép người khác công bố) sẽ có thời hạn bảo hộ tương ứng với thời hạn bảo hộ quyền tài sản dưới đây.

b. Quyền tài sản và quyền công bố (Theo Điều 27 Luật SHTT) Pháp luật phân chia cách tính thời hạn dựa trên loại hình tác phẩm:

  • Tác phẩm văn học, âm nhạc, khoa học, bài giảng…: Được bảo hộ trong suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo năm tác giả chết. Nếu tác phẩm có nhiều tác giả (có đồng tác giả) thì thời hạn 50 năm được tính từ năm tác giả cuối cùng chết.
  • Tác phẩm đặc thù (Điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh):
    • Thời hạn bảo hộ là 75 năm kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên.
    • Đối với tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng chưa được công bố trong thời hạn 25 năm kể từ khi tác phẩm được hình thành thì thời hạn bảo hộ là 100 năm kể từ khi tác phẩm được hình thành.
  • Đối với tác phẩm khuyết danh: Khi tên tác giả xuất hiện thì thời hạn bảo hộ được tính theo quy định dành cho tác phẩm có tác giả nêu trên.

c. Hết thời hạn bảo hộ

  • Khi hết thời hạn bảo hộ theo quy định, tác phẩm sẽ thuộc về công chúng.
  • Mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền sử dụng tác phẩm mà không cần xin phép hay trả tiền bản quyền, nhưng bắt buộc phải tôn trọng các quyền nhân thân (như tên tác giả, sự toàn vẹn của tác phẩm).

Cơ sở pháp lý: Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2019, 2022).

2. GIẢI ĐÁP CÂU HỎI

Câu 1: Một tác phẩm của Nam Cao (mất năm 1951) hiện nay đã hết thời hạn bảo hộ quyền tài sản chưa?

Trả lời: Theo quy định, tác phẩm văn học được bảo hộ suốt đời tác giả và 50 năm tiếp theo năm tác giả chết. Cố nhà văn Nam Cao mất năm 1951. Thời hạn 50 năm sau khi ông mất sẽ kết thúc vào ngày 31/12/2001.

Kết luận: Hiện nay (năm 2026), các tác phẩm của Nam Cao đã hết thời hạn bảo hộ quyền tài sản và thuộc về công chúng. Tuy nhiên, các quyền nhân thân (tên tuổi, sự toàn vẹn của tác phẩm) vẫn được bảo hộ vô thời hạn. Theo đó, việc sử dụng tác phẩm của nhà văn không được xâm phạm quyền nhân thân của tác giả. 

Câu 2: Tại sao tác phẩm điện ảnh lại có cách tính thời hạn khác với tác phẩm văn học?

Trả lời: Tác phẩm văn học thường do một hoặc nhiều cá nhân sáng tạo, gắn liền với cuộc đời tác giả. Theo đó, tác phẩm văn học thường chỉ có tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả. Nhưng ngược lại, các tác phẩm điện ảnh thường là sự đầu tư của tổ chức (nhà sản xuất) và có sự đóng góp của tập thể (như đạo diễn, nhà biên kịch, diễn viên…). Theo đó, tác phẩm điện ảnh không chỉ có tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, mà còn có các chủ thể quyền liên quan khác (quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình,…).  

Vì vậy, pháp luật tính thời hạn bảo hộ quyền theo thời điểm công bố tác phẩm điện ảnh để đảm bảo quyền lợi cho các chủ thể quyền liên quan được dễ dàng hơn.

Câu 3: Nếu một tác phẩm có 02 đồng tác giả, thời hạn 50 năm sẽ tính từ khi nào?

Trả lời: Theo khoản 2 Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ, với tác phẩm có đồng tác giả thì thời hạn bảo hộ (suốt đời tác giả cộng thêm 50 năm) sẽ được tính từ năm tác giả cuối cùng chết.

Cụ thể, thời hạn 50 năm sẽ bắt đầu được tính từ ngày 01 tháng 01 của năm kế tiếp sau năm mà người đồng tác giả cuối cùng qua đời.

Lên đầu trang